Vietnam’s hub for climate-smart agriculture and sustainable development

Vietnam’s hub for climate-smart agriculture and sustainable development

02 Jul, 2026 61

ĐBSCL tăng tốc phát triển nông nghiệp thông minh

Công nghệ số đang hiện diện rõ nét trong sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL, mở ra hướng sản xuất chính xác, minh bạch và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.Những năm gần đây, chuyển đổi số không còn là khái niệm xa lạ trong sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL. Trên những cánh đồng lúa, trong nhà màng hay vùng nuôi thủy sản, nhiều nông dân đã bắt đầu sử dụng điện thoại thông minh để theo dõi thời tiết, ghi nhật ký sản xuất, quản lý mùa vụ và tiếp cận kỹ thuật canh tác mới.Các mô hình ứng dụng công nghệ số để truy xuất nguồn gốc nông sản đang được nhiều HTX quan tâm. Ảnh: Kim Anh.Chia sẻ với Báo Nông nghiệp và Môi trường tại tọa đàm "Giải pháp số từng bước thay đổi cách làm nông nghiệp ở ĐBSCL", TS Trương Minh Thái - Trường Công nghệ thông tin (Đại học Cần Thơ) cho biết, nông nghiệp thông minh hay nông nghiệp chính xác thực chất là sự kết hợp giữa công nghệ thông tin, công nghệ số, tự động hóa và dữ liệu nhằm hỗ trợ nông dân đưa ra quyết định hiệu quả hơn trong sản xuất. Thay vì canh tác dựa hoàn toàn vào kinh nghiệm, nông dân sẽ dựa vào số liệu về môi trường, nhu cầu cây trồng, vật nuôi và điều kiện thực tế để lựa chọn giải pháp phù hợp. Cốt lõi của nông nghiệp thông minh là hướng tới “5 đúng” gồm đúng đầu vào, đúng thời điểm, đúng vị trí, đúng liều lượng và đúng phương pháp canh tác. Muốn làm được điều này, bà con nông dân phải có dữ liệu về môi trường sản xuất, nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng cũng như những biến động điều kiện tự nhiên. Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, nhiều giải pháp công nghệ số đã được đưa vào sản xuất ở vùng ĐBSCL. Trong đó trí tuệ nhân tạo (AI) được xem là công cụ hỗ trợ đưa ra quyết định chính xác hơn cho nông dân. Các hệ thống cảm biến IoT giúp thu thập dữ liệu môi trường, giám sát điều kiện sản xuất, trong khi tự động hóa góp phần tiết kiệm nhân công và giảm chi phí. Bên cạnh đó, công nghệ số còn giúp ngành nông nghiệp giải quyết bài toán truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi giá trị. Những nền tảng điện toán đám mây hiện nay cho phép nông dân quản lý toàn bộ quá trình sản xuất trên môi trường số, từ ghi chép nhật ký, theo dõi mùa vụ đến quản lý mã số vùng trồng. Nông dân ở những vùng sản xuất thường xuyên chịu tác động của xâm nhập mặn đã áp dụng hệ thống cảm biến IoT để theo dõi độ ẩm đất. Ảnh: Kim Anh.Đặc biệt, công nghệ blockchain đang được xem là giải pháp phù hợp để lưu trữ và xác thực thông tin trong chuỗi sản xuất nông sản. Việc ghi lại nhật ký canh tác bằng công nghệ số không chỉ giúp minh bạch quy trình sản xuất mà còn tạo niềm tin cho thị trường tiêu thụ, nhất là với các sản phẩm xuất khẩu. Bà Huỳnh Kim Định - Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đánh giá, các mô hình ứng dụng công nghệ số để quản lý vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, ghi nhật ký sản xuất hay đo đếm phát thải khí nhà kính đang mang lại hiệu quả rõ rệt tại ĐBSCL. Những mô hình này không chỉ giúp nâng cao giá trị nông sản mà còn góp phần tăng thu nhập cho người dân thông qua việc minh bạch hóa chuỗi sản xuất. Theo bà Định, ứng dụng công nghệ số trong nông nghiệp thông minh còn giúp đưa ra quyết định chính xác hơn trong sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và tăng sức cạnh tranh cho nông sản vùng ĐBSCL. Một trong những điểm đáng chú ý hiện nay là việc số hóa dữ liệu đang dần chuyển sang giai đoạn tự động hóa. Nhiều mô hình đã ứng dụng hệ thống đo mực nước tự động trong sản xuất lúa hoặc sử dụng công nghệ nhận diện để đo đếm dịch hại, thiên địch trên đồng ruộng. Từ dữ liệu thu thập được, nông dân có thể đưa ra quyết định quản lý dịch hại hợp lý hơn, giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và hướng đến cân bằng sinh thái.Bên cạnh đó, đội ngũ khuyến nông đang từng bước trở thành “huấn luyện viên số” tại cơ sở. Không chỉ hướng dẫn kỹ thuật canh tác, cán bộ khuyến nông còn hỗ trợ nông dân cài đặt ứng dụng, lập tài khoản, sử dụng phần mềm và tiếp cận các nền tảng số phục vụ sản xuất. Hiện nay, nhiều địa phương ở ĐBSCL đã hình thành tổ khuyến nông số, kết nối với chuyên gia, viện trường và các tổ chức liên quan để xây dựng mô hình công nghệ số phù hợp với điều kiện thực tế từng địa phương.Theo Kim Anh - Văn Vũ

Xem chi tiết..

18 May, 2026 304

DEMETER tại Demo Day 2026: Từ công nghệ, dữ liệu đến hành trình đưa nông sản Việt tiến gần hơn tới thị trường quốc tế

DEMETER tự hào là một trong 12 startup tiêu biểu tham gia cùng các đối tác Nhật Bản tại Demo Day 2026 – dấu mốc quan trọng trong hành trình kết nối đổi mới sáng tạo giữa Việt Nam và Nhật Bản, đồng thời mở ra thêm những cơ hội hợp tác quốc tế hướng tới phát triển bền vững và ứng dụng công nghệ giải quyết các bài toán xã hội, môi trường. Demo Day đánh dấu sự khởi đầu khởi đầu cho các mối quan hệ hợp tác dài hạn giữa startup Việt Nam với các doanh nghiệp, nhà đầu tư và đối tác công nghệ Nhật Bản.Sau 6 tháng đồng hành cùng Chương trình Ươm tạo Việt Nam – Nhật Bản, DEMETER không chỉ có cơ hội kết nối cùng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp và chuyên gia quốc tế, mà còn từng bước hoàn thiện định hướng phát triển nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ, dữ liệu và tiêu chuẩn hóa để tạo ra giá trị dài hạn cho ngành nông nghiệp Việt Nam. Trong bối cảnh nông nghiệp đang đối mặt với nhiều yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và năng lực cạnh tranh quốc tế, DEMETER lựa chọn hướng đi tập trung vào xây dựng nền tảng quản lý vùng nguyên liệu và ứng dụng công nghệ vào quản lý nông nghiệp. Hiện DEMETER đang phát triển hệ thống quản lý vùng nguyên liệu tại 5 tỉnh thành, tập trung vào các nhóm sản phẩm chủ lực gồm sầu riêng, gạo và mật ong với mục tiêu không chỉ nâng cao giá trị nông sản, mà còn từng bước xây dựng những chuỗi cung ứng minh bạch, bền vững và có khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Ông Lê Minh Nhựt - Giám đốc Demeter đang trực tiếp chia sẻ tại sự kiện Demo Day.Đối với DEMETER, công nghệ không đơn thuần là công cụ vận hành mà còn là nền tảng để chuẩn hóa quy trình, nâng cao hiệu quả quản lý, tăng cường tính minh bạch và mở rộng cơ hội tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế. Mỗi vùng nguyên liệu được xây dựng bài bản hôm nay không chỉ tạo ra giá trị cho hiện tại mà còn góp phần hình thành nền tảng phát triển dài hạn cho nông nghiệp Việt Nam trong tương lai. Việc tiếp tục củng cố hợp tác chiến lược cùng các đối tác Nhật Bản cũng mở ra thêm cơ hội để DEMETER học hỏi kinh nghiệm thị trường, mở rộng kết nối quốc tế và tiếp tục hoàn thiện những giải pháp hướng tới mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững. Những kết nối được tạo ra từ chương trình không chỉ mang ý nghĩa hợp tác thương mại mà còn là cơ hội để cùng đồng kiến tạo các mô hình phát triển mới, nơi công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng dài hạn. Hành trình đưa nông sản Việt vươn ra thị trường quốc tế không bắt đầu từ điểm cuối cùng của chuỗi cung ứng, mà bắt đầu từ việc xây dựng nền tảng đủ vững từ vùng nguyên liệu, quy trình quản lý và tiêu chuẩn vận hành. DEMETER tiếp tục theo đuổi hành trình đó với định hướng phát triển nông nghiệp bền vững bằng công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo, từng bước tạo thêm giá trị cho nông sản Việt và mở rộng cơ hội kết nối với thị trường toàn cầu.

Xem chi tiết..

15 May, 2026 243

Cơ hội mới cho doanh nghiệp nông nghiệp khi làm chủ dữ liệu số

Dữ liệu số: Khối "tài sản mới" đầy quyền lực Theo những chia sẻ mới đây từ Cục Chuyển đổi số (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), hạ tầng số và hệ thống dữ liệu đang được xem là nguồn lực chiến lược cốt lõi để nông nghiệp Việt Nam vươn lên thành trung tâm công nghệ của khu vực. Giờ đây, dữ liệu không chỉ là những con số tĩnh dùng để lưu trữ mà đã trở thành "tài sản mới", mang năng lực tạo ra lợi nhuận và giá trị gia tăng vô cùng mạnh mẽ cho toàn bộ chuỗi cung ứng nông sản. ảnh minh họa: nông dân bắt đầu vào hành trình chuyển đổi sốĐổi mới tư duy: Chuyển đổi số là đầu tư, không phải chi phí Một trong những rào cản lớn nhất đối với nền nông nghiệp hiện nay chính là nhận thức. Các chuyên gia nhấn mạnh, để bứt phá trong bối cảnh mới, doanh nghiệp và hợp tác xã cần nhanh chóng gỡ bỏ tư duy cũ, coi việc ứng dụng công nghệ là những khoản đầu tư sinh lời thay vì chi phí cố định. Việc mạnh dạn phân bổ nguồn lực tài chính vào các giải pháp công nghệ tiên tiến sẽ giúp nhà nông làm chủ rủi ro và kiến tạo lợi thế cạnh tranh cực lớn trên thị trường. Hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh Không chỉ dừng lại ở bài toán năng suất, công nghệ số còn là công cụ quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh trước những áp lực lớn về biến đổi khí hậu và tiêu chuẩn ESG khắt khe trên toàn cầu. Thông qua việc phát triển các mô hình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh và ứng dụng kỹ thuật số vào truy xuất nguồn gốc, nền nông nghiệp Việt Nam sẽ dễ dàng tiết kiệm năng lượng, tối ưu hóa công tác quản trị và tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển bền vững. Theo VTV

Xem chi tiết..

07 May, 2026 230

Người dân sắp có ứng dụng quốc gia để truy xuất nguồn gốc hàng hóa

Hiện nay, tình trạng hàng giả, hàng nhái và hàng kém chất lượng đang diễn biến ngày càng phức tạp, đặc biệt là trong các nhóm hàng hóa thiết yếu như dược phẩm, thực phẩm và hàng tiêu dùng. Nhằm giải quyết triệt để vấn đề này, Bộ Công an vừa đề xuất xây dựng Nền tảng quốc gia về định danh và truy xuất nguồn gốc hàng hóa, đi kèm với một ứng dụng di động hỗ trợ người dân kiểm tra thông tin. Theo dự thảo, mỗi sản phẩm khi lưu thông trên thị trường sẽ được cấp một mã định danh duy nhất (UID). Mã này đóng vai trò như một "chứng minh thư" của sản phẩm, lưu trữ dữ liệu xuyên suốt từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Chủ động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Thông qua ứng dụng trên điện thoại thông minh, người dân chỉ cần thực hiện thao tác quét mã QR dán trên bao bì là có thể tra cứu toàn bộ lịch sử lưu thông của sản phẩm. Các thông tin chi tiết về nguồn gốc, xuất xứ, hạn sử dụng và tính pháp lý sẽ được hiển thị minh bạch. Đáng chú ý, nền tảng này còn cung cấp công cụ tương tác hai chiều: người dùng có thể gửi báo cáo, phản ánh vi phạm trực tiếp ngay trên ứng dụng và sẽ được cơ quan chức năng tiếp nhận, phản hồi. Người dân mua sắm hàng hoá tại siêu thị Co.opmart Thủ Đức. Ảnh: Quỳnh TrầnGiải pháp toàn diện cho doanh nghiệp: Đối với các đơn vị sản xuất và phân phối, nền tảng quốc gia mang lại lợi ích to lớn trong việc bảo vệ uy tín thương hiệu, ngăn chặn triệt để tình trạng làm giả xuất xứ hay sao chép mã QR trôi nổi. Về mặt vận hành, hệ thống có khả năng kết nối đồng bộ với các phần mềm quản trị doanh nghiệp hiện có như ERP hay POS. Điều này giúp doanh nghiệp quản lý hồ sơ vòng đời sản phẩm hiệu quả hơn và cắt giảm được nhiều thủ tục hành chính. Hơn thế nữa, việc minh bạch nguồn gốc thông qua nền tảng cấp quốc gia sẽ giúp hàng hóa Việt Nam dễ dàng đáp ứng các tiêu chuẩn truy xuất khắt khe của các hiệp định thương mại lớn (như EVFTA, CPTPP), từ đó mở rộng cơ hội xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Dự kiến, dự thảo về Nền tảng quốc gia và ứng dụng di động này sẽ được trình Chính phủ ban hành trong quý 2 năm nay. Theo: Báo VnExpress

Xem chi tiết..

30 Apr, 2026 291

Nông nghiệp năm 2026: Khi máy móc và trí tuệ nhân tạo trở thành "bạn đồng hành" của nhà nông

Ngành nông nghiệp đang chứng kiến những bước chuyển mình mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Không còn bó buộc trong những chiếc máy cày cồng kềnh, bộ mặt của đồng ruộng năm 2026 đang dần thay đổi nhờ sự góp mặt của các hệ thống thông minh, máy móc tự động và những dòng dữ liệu biết nói. Đây không đơn thuần là sự hào nhoáng của công nghệ, mà là một cuộc cách mạng thực sự nhằm giúp việc canh tác trở nên hiệu quả, bền vững và nhẹ nhàng hơn cho người nông dân. Trí tuệ nhân tạo – "Người cố vấn" tận tâm trên từng luống cày Trước đây, trí tuệ nhân tạo nghe có vẻ xa vời, nhưng đến năm 2026, nó đã trở thành một người trợ lý đắc lực ngay tại thực địa. Thay vì chỉ thu thập số liệu khô khan, trí tuệ nhân tạo tạo sinh giờ đây đóng vai trò như một chuyên gia tư vấn bằng ngôn ngữ đời thường. Người nông dân có thể dễ dàng nhận được những chỉ dẫn cụ thể: từ việc xác định thời điểm vàng để gieo hạt, lượng nước tưới chính xác cho từng mét vuông đất, cho đến việc dự báo sớm các loại sâu bệnh dựa trên biến động của thời tiết. Thay vì phải tự mình xử lý hàng tá biểu đồ phức tạp, nhà nông chỉ cần nhận về những lời khuyên ngắn gọn, dễ hiểu để ra quyết định ngay tức khắc. Ví dụ, máy tính có thể nhắc nhở: "Sáng mai nên bón phân vì trời sắp mưa nhẹ, giúp phân ngấm tốt hơn". Điều này giúp giảm thiểu tối đa các rủi ro từ thiên nhiên và tối ưu hóa năng suất cây trồng. Robot và tự động hóa: Khi máy móc làm việc nặng, con người làm chủ Máy bay không người lái được điều khiển bởi con ngườiMột trong những rào cản lớn nhất của công nghệ trước đây là chi phí đắt đỏ, khiến các trang trại quy mô vừa và nhỏ khó tiếp cận. Tuy nhiên, xu hướng hiện nay đã thay đổi. Những loại robot chuyên dụng, có kích thước nhỏ gọn và giá thành phải chăng đang xuất hiện ngày càng nhiều trên các cánh đồng. Đó có thể là những cánh tay máy chuyên nhổ cỏ một cách chuẩn xác mà không cần dùng đến hóa chất, hay các thiết bị bay không người lái có khả năng phun thuốc đúng vào những cây bị bệnh thay vì phun đại trà cả cánh đồng. Quan trọng hơn, mô hình "con người điều phối" đang trở thành chủ đạo. Máy móc đảm nhận những công việc nặng nhọc, lặp đi lặp lại và độc hại, trong khi người nông dân tập trung vào việc quản lý, lập kế hoạch và đưa ra các quyết định chiến lược. Sự kết hợp này không chỉ giúp tiết kiệm sức lao động mà còn bảo vệ sức khỏe trực tiếp cho người sản xuất. Sự kết nối vạn vật và chuỗi cung ứng minh bạch Sự phát triển của hạ tầng internet tại các vùng nông thôn đã tạo điều kiện cho các thiết bị trên đồng ruộng "nói chuyện" được với nhau. Một hệ thống mở cho phép máy cảm biến đất, trạm dự báo thời tiết và thiết bị tưới tiêu tự động phối hợp nhịp nhàng mà không cần người nông dân phải can thiệp thủ công quá nhiều. Dòng chảy thông tin này không dừng lại ở bờ ruộng mà còn kéo dài đến tận tay người tiêu dùng. Nhờ dữ liệu được ghi chép minh bạch suốt quá trình canh tác, mọi thông tin về nguồn gốc, cách thức chăm sóc hay mức độ an toàn của nông sản đều có thể truy xuất dễ dàng. Người mua chỉ cần quét một mã nhỏ là có thể biết rõ trái cam, hạt gạo mình đang cầm trên tay được trồng ở đâu, dùng loại phân bón gì. Điều này không chỉ tạo dựng lòng tin với khách hàng mà còn giúp nông sản Việt nâng cao giá trị trên thị trường. Hướng tới tương lai bền vữngCông nghệ được ứng dụng vào nông nghiệp Nông nghiệp năm 2026 không chỉ là câu chuyện về năng suất mà còn là trách nhiệm với môi trường. Việc ứng dụng công nghệ giúp giảm thiểu đáng kể lượng nước tưới, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, từ đó bảo vệ nguồn nước và độ màu mỡ của đất đai cho thế hệ mai sau. Công nghệ không ra đời để thay thế con người, mà để trở thành "cánh tay nối dài", giúp nhà nông làm chủ mảnh vườn của mình một cách thông minh và thảnh thơi hơn. Với sự hỗ trợ từ máy móc hiện đại, nền nông nghiệp tương lai hứa hẹn sẽ trở thành một ngành nghề đầy sức hút, bền vững và đủ sức nuôi sống thế giới trong bối cảnh nhiều biến động. Theo Christopher Parkmond

Xem chi tiết..

16 Apr, 2026 290

Nông sản Việt đón tin vui: Bưởi và chanh Việt chính thức thâm nhập thị trường Trung Quốc

Ngày 15/4/2026 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng đối với ngành nông nghiệp và xuất khẩu Việt Nam khi Nghị định thư về việc xuất khẩu bưởi và chanh tươi sang thị trường Trung Quốc chính thức được ký kết. Sự kiện ký kết diễn ra tại Bắc Kinh giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cùng Tổng cục Hải quan Trung Quốc, nằm trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước của lãnh đạo cấp cao Việt Nam. Thỏa thuận này là thành quả của quá trình đàm phán kỹ thuật và tháo gỡ rào cản kiểm dịch thực vật kéo dài ròng rã suốt từ năm 2019 đến nay. Mở ra cơ hội lớn cho ngành nông sản Trung Quốc hiện là thị trường tiêu thụ nông sản lớn nhất của Việt Nam. Việc bưởi và chanh được xuất khẩu chính ngạch nâng tổng số mặt hàng trái cây, nông sản Việt Nam thâm nhập thị trường này theo diện ký nghị định thư lên 13 loại. Theo số liệu thống kê, Việt Nam có lợi thế vô cùng lớn về sản lượng và chất lượng của hai loại quả này. Diện tích trồng bưởi trên cả nước hiện đạt khoảng 106.000 ha. Chỉ tính riêng trong 2 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu bưởi đã đạt mức 13,8 triệu USD, ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng khoảng 30% so với cùng kỳ năm trước. Với việc có "hộ chiếu" chính ngạch, trái cây Việt Nam sẽ tránh được tình trạng rủi ro khi xuất khẩu tiểu ngạch, đảm bảo giá cả ổn định và mang lại biên độ lợi nhuận tốt hơn cho chuỗi cung ứng. Đây là cơ hội vàng để các doanh nghiệp xuất khẩu và logistics mở rộng quy mô, nâng cao năng lực cạnh tranh. Thách thức đi kèm tiêu chuẩn khắt khe Song song với những cơ hội, Nghị định thư cũng đặt ra những yêu cầu nghiêm ngặt nhằm đảm bảo chất lượng hàng hóa. Để được phép xuất khẩu sang thị trường 1,4 tỷ dân, các doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp cần lưu ý: Mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói: Bắt buộc phải được đăng ký và phê duyệt bởi cơ quan chức năng của cả Việt Nam và Trung Quốc. Kiểm dịch thực vật: Tuân thủ tuyệt đối các biện pháp kiểm soát sinh vật gây hại, đảm bảo không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt mức cho phép. Tiêu chuẩn đóng gói: Quy trình phân loại, đóng gói, nhãn mác phải minh bạch, đáp ứng đầy đủ quy chuẩn truy xuất nguồn gốc của hải quan nước bạn. Sự kiện này không chỉ khẳng định vị thế ngày càng cao của nông sản Việt Nam trên bản đồ quốc tế mà còn là động lực để các doanh nghiệp trong nước tiếp tục hoàn thiện chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến vận chuyển. Theo Nguyễn Cung

Xem chi tiết..

09 Apr, 2026 379

Hội thảo Khoa học Chăn nuôi và Thú y toàn quốc 2026 diễn ra ngày 27–28/3

Ngày 11/3, tại họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ông Nguyễn Như Cường – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ – cho biết Hội thảo Khoa học Chăn nuôi và Thú y toàn quốc 2026 sẽ được tổ chức trong hai ngày 27–28/3 theo hình thức kết hợp trực tiếp và trực tuyến. (Xem chi tiết Hội thảo kỷ yếu chăn nuôi TẠI ĐÂY)Sự kiện dự kiến thu hút khoảng 750 đại biểu tham dự, bao gồm đại diện các cơ quan Quốc hội, bộ ngành Trung ương, lãnh đạo địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia, doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức quốc tế và cơ quan báo chí. Hội thảo do lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì.Mục tiêu của hội thảo là tổng kết, đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y giai đoạn 2021–2025; đồng thời đề ra định hướng phát triển, đổi mới sáng tạo cho giai đoạn 2026–2030. Đây cũng là diễn đàn để các nhà quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ kết quả nghiên cứu, đề xuất giải pháp và chính sách nhằm phát triển ngành theo hướng bền vững, an toàn dịch bệnh và thân thiện với môi trường.Tại phiên toàn thể, các đại biểu sẽ tập trung thảo luận các nội dung chính như: kết quả nghiên cứu khoa học giai đoạn 2021–2025; định hướng xây dựng chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm giai đoạn 2026–2030; cập nhật các tiến bộ về giống vật nuôi, công nghệ sinh học, dinh dưỡng, vắc xin và quản lý dịch bệnh.Bên cạnh đó, hội thảo còn tổ chức các phiên chuyên đề về chăn nuôi lợn, gia cầm, gia súc nhai lại; sức khỏe vật nuôi; công nghệ vắc xin và sinh phẩm thú y; vấn đề kháng kháng sinh và an toàn thực phẩm. Các kết quả thảo luận sẽ được tổng hợp và báo cáo tại phiên bế mạc, làm cơ sở đề xuất chính sách và định hướng phát triển ngành trong thời gian tới.Chăn nuôi và thú y hiện đóng góp khoảng 26–28% giá trị GDP toàn ngành nông nghiệp, giữ vai trò quan trọng trong đảm bảo nguồn cung thực phẩm và sinh kế cho hàng triệu hộ nông dân cùng doanh nghiệp.Thời gian qua, hệ thống chính sách và pháp luật liên quan đến chăn nuôi, thú y, an toàn thực phẩm và khoa học công nghệ đã từng bước hoàn thiện. Nhiều tiến bộ về giống, dinh dưỡng, thuốc thú y, vắc xin và công nghệ chẩn đoán, quản lý dịch bệnh đã được ứng dụng hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của ngành.Chăn nuôi và thú y là lĩnh vực quan trọng của ngành nông nghiệp Việt Nam, đóng góp khoảng 26 – 28% giá trị GDP toàn ngành.Tuy nhiên, ngành vẫn đối mặt với nhiều thách thức như quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ còn phổ biến, nguy cơ dịch bệnh cao, năng lực hệ thống thú y cơ sở chưa đồng đều, việc kiểm soát kháng sinh, truy xuất nguồn gốc và bảo vệ môi trường còn hạn chế. Đồng thời, đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới công nghệ chưa tương xứng, sự liên kết giữa các bên liên quan cần được tăng cường hơn nữa.Thông qua hội thảo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường kỳ vọng sẽ thúc đẩy kết nối giữa nhà quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp, từ đó tăng cường hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, hoàn thiện cơ chế chính sách và xác định các nhiệm vụ trọng tâm, hướng tới phát triển ngành chăn nuôi Việt Nam hiện đại, hiệu quả và hội nhập quốc tế.

Xem chi tiết..

08 Apr, 2026 340

Mở “cánh cửa” trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon

Ngày 01/04/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 112/2026/NĐ-CP, chính thức thiết lập khuôn khổ pháp lý cho hoạt động trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính (KNK) và tín chỉ carbon. Đây được xem là bước đi quan trọng, tạo nền tảng để Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường carbon toàn cầu.Theo Nghị định, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ là cơ quan đại diện Chính phủ thực hiện việc cấp văn bản chấp thuận chuyển giao quốc tế đối với kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon. Đồng thời, cơ quan này cũng chịu trách nhiệm thực hiện điều chỉnh tương ứng đối với lượng phát thải được chuyển giao giữa Việt Nam và các đối tác.Kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon từ các chương trình, dự án giảm phát thải tại VIệt Nam có thể đưa ra thị trường quốc tế.Điểm cốt lõi của chính sách lần này là việc nội luật hóa các hướng dẫn theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris. Qua đó, Việt Nam có cơ sở pháp lý đầy đủ và thống nhất để tham gia các cơ chế hợp tác quốc tế về giảm phát thải, đồng thời vẫn đảm bảo lợi ích quốc gia và các cam kết đã đề ra.Một nguyên tắc quan trọng được đặt ra là các kết quả giảm phát thải khi đã chuyển giao ra quốc tế sẽ không còn được tính vào mục tiêu quốc gia (NDC) của Việt Nam. Thay vào đó, lượng giảm phát thải này sẽ được ghi nhận cho quốc gia hoặc đối tác tiếp nhận. Cơ chế “điều chỉnh tương ứng” này nhằm đảm bảo tính minh bạch và tránh việc tính trùng trong thực hiện cam kết khí hậu.Toàn bộ hoạt động trao đổi quốc tế đều phải được ghi nhận trên Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon. Việc chuyển giao chỉ được thực hiện sau khi kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon đã được xác nhận, đồng thời có ý kiến thống nhất từ các cơ quan quản lý liên quan.Tỷ lệ chuyển giao quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon với dự án công nghệ mới, chi phí cao, chưa hoặc ít được triển khai tại Việt Nam tối đa lên đến 90%Không chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện khung pháp lý, Nghị định còn được kỳ vọng sẽ mở ra cơ hội thu hút nguồn lực quốc tế về tài chính và công nghệ. Đây là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế carbon thấp và nâng cao năng lực cạnh tranh, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.Một điểm đáng chú ý khác là cách tiếp cận linh hoạt trong quy định tỷ lệ chuyển giao quốc tế. Theo đó, các dự án áp dụng công nghệ mới, chi phí cao và chưa phổ biến tại Việt Nam có thể được chuyển giao tối đa tới 90% kết quả giảm phát thải. Trong khi đó, với các giải pháp đã được triển khai, tỷ lệ này được giới hạn ở mức tối đa 50%. Cách phân bổ này vừa giúp thu hút đầu tư, vừa đảm bảo Việt Nam vẫn giữ đủ nguồn giảm phát thải để hoàn thành các cam kết trong nước.Nghị định cũng xác định rõ ba cơ chế mà kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon có thể tham gia, bao gồm các thỏa thuận theo Điều 6.2, cơ chế Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris và các tiêu chuẩn carbon độc lập. Mỗi cơ chế đều đi kèm quy trình đăng ký, công nhận và chuyển giao chặt chẽ nhằm đảm bảo tính minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế.Các hãng hàng không Việt Nam phải đáp ứng Chương trình bù đắp và giảm phát thải carbon đối với hàng không quốc tế (CORSIA). Ảnh minh họa.Đáng chú ý, các quy định riêng cũng được bổ sung để phục vụ việc thực hiện các cam kết quốc tế đặc thù, trong đó có chương trình CORSIA trong lĩnh vực hàng không. Điều này cho phép các tổ chức trong nước chủ động tiếp cận và sử dụng tín chỉ carbon quốc tế để đáp ứng nghĩa vụ giảm phát thải.Việc ban hành Nghị định 112/2026/NĐ-CP không chỉ là bước hoàn thiện quan trọng về chính sách, mà còn thể hiện rõ định hướng hội nhập chủ động của Việt Nam trong lĩnh vực khí hậu. Với một khung pháp lý minh bạch và đồng bộ, Việt Nam đang mở rộng cánh cửa đón dòng vốn đầu tư xanh, công nghệ hiện đại, đồng thời khẳng định vai trò là một mắt xích tích cực trong chuỗi giá trị kinh tế carbon thấp toàn cầu.Theo Khánh Ly - Diệu Linh - Cổng thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Xem chi tiết..

28 Feb, 2026 442

Thu hoạch những chân trời mới: Bưởi mở ra cánh cửa mới cho Việt Nam

Tại một ngôi làng yên tĩnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, nơi hương thơm của bưởi chín ngào ngạt và mảnh đất này đã nuôi dưỡng nhiều thế hệ nông dân, Ngô Tường Vy ấp ủ giấc mơ đưa trái cây Việt Nam, đặc biệt là bưởi, ra thị trường toàn cầu.Thông qua Chương trình Tiêu chuẩn và Chất lượng Toàn cầu (GQSP) Việt Nam, do Thụy Sĩ tài trợ thông qua Ban Thư ký Nhà nước về Kinh tế (SECO) của Thụy Sĩ và được thực hiện với sự hợp tác của Bộ Nông nghiệp và Môi trường , Vy đã nhận được hỗ trợ kỹ thuật về các công nghệ sau thu hoạch mới cho phép phủ lớp bảo vệ lên bưởi, nhờ đó kéo dài thời hạn sử dụng lên đến 3 tháng mà không cần dùng màng bọc nhựa.Song song đó, một hệ thống tiền xử lý đồng bộ cho việc chế biến bưởi với công suất 4-5 tấn/giờ đã được thiết kế, chế tạo và lắp đặt, bao gồm các bước chính như rửa, xử lý hóa học, xả nước, đánh sáp và sấy khô. Hệ thống thiết bị này đã được Cục Kiểm dịch Sức khỏe Động thực vật Hoa Kỳ (APHIS) và Cục Bảo vệ Thực vật chấp nhận, cho phép nhà xuất khẩu đáp ứng các yêu cầu xuất khẩu bưởi sang thị trường Mỹ. Đối với Vy, điều này mang ý nghĩa cá nhân sâu sắc.“Hiệu quả của dự án giúp các doanh nghiệp vượt qua thách thức then chốt trong xuất khẩu trái cây, đó là xử lý sau thu hoạch để bảo quản trái cây trong thời gian vận chuyển dài và xuất khẩu sang các thị trường khó tính với chi phí hậu cần giảm thiểu” , bà chia sẻ. “ Đây là một bước đi cần thiết vào thời điểm này. Nó cũng khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn vào các đổi mới trong tương lai để mang đến những sản phẩm chất lượng cho người tiêu dùng.”Kể từ chuyến hàng đầu tiên đó, Chanh Thu đã xuất khẩu gần 1.700 tấn bưởi sang Mỹ, truyền cảm hứng cho nông dân, nâng cao đời sống cộng đồng và mở ra những thị trường mới, chứng minh rằng khi phụ nữ được trang bị kiến ​​thức, công nghệ và sự hỗ trợ, họ có thể làm nên những điều kỳ diệu.Hành trình của Vy không chỉ là một câu chuyện thành công trong kinh doanh. Đó là minh chứng cho những gì xảy ra khi niềm đam mê địa phương gặp gỡ chuyên môn toàn cầu, khi giấc mơ của một người phụ nữ được hiện thực hóa bằng tinh thần đoàn kết quốc tế, và khi thành quả của một quốc gia được trao cơ hội tỏa sáng trên trường quốc tế.Theo https://www.unido.org/

Xem chi tiết..

02 Feb, 2026 467

Hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO/HACCP

ĐẮK LẮK - Sở NN-MT tỉnh Đắk Lắk triển khai chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO/HACCP với tổng kinh phí ban đầu 567 triệu đồng.Nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn nâng cao năng lực quản lý, bảo đảm an toàn thực phẩm và tăng sức cạnh tranh của nông sản địa phương, Sở NN-MT tỉnh Đắk Lắk đã triển khai chương trình hỗ trợ áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO/HACCP. Đây là một trong những giải pháp thiết thực góp phần kiểm soát an toàn thực phẩm, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong và ngoài nước. Hỗ trợ 567 triệu đồng Mới đây, Sở NN-MT tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức hội nghị trao giấy chứng nhận ISO/HACCP cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chương trình trong năm 2025. Tại hội nghị, lãnh đạo Sở NN-MT cùng đại diện Công ty cổ phần Chứng nhận và Kiểm nghiệm FAO đã trao giấy chứng nhận ISO/HACCP cho 8 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn chứng nhận trong năm 2025. Bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở NN-MT tỉnh Đắk Lắk phát biểu tại hội nghị trao giấy chứng nhận ISO/HACCP.Sở NN-MT tỉnh Đắk Lắk cho biết, việc trao giấy chứng nhận ISO/HACCP không chỉ ghi nhận nỗ lực của các doanh nghiệp trong việc cải thiện điều kiện sản xuất mà còn khẳng định hiệu quả thực tiễn của chương trình hỗ trợ từ phía cơ quan quản lý nhà nước. Theo Sở NN-MT tỉnh Đắk Lắk, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng ISO/HACCP tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm an toàn thực phẩm và tăng sức cạnh tranh của nông sản Đắk Lắk. Việc áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng tiên tiến đã tạo nền tảng vững chắc để các doanh nghiệp từng bước chuẩn hóa quy trình sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng và mở rộng thị trường tiêu thụ trong thời gian tới. Trong năm 2025, Sở NN-MT tỉnh Đắk Lắk đã triển khai chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO/HACCP với tổng kinh phí ban đầu 567 triệu đồng. Cụ thể, đã tiến hành khảo sát 12 doanh nghiệp có nhu cầu và tiềm năng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO/HACCP. Trên cơ sở đánh giá điều kiện thực tế, ngành chức năng đã lựa chọn 8 doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia chương trình hỗ trợ, bao gồm 5 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh cà phê, 1 doanh nghiệp tổ yến, 1 doanh nghiệp hạt điều và 1 doanh nghiệp thủy sản. Mức hỗ trợ bình quân cho mỗi doanh nghiệp đạt hơn 70,8 triệu đồng, tập trung vào các nội dung tư vấn, hướng dẫn xây dựng hệ thống, đánh giá và chứng nhận theo tiêu chuẩn ISO/HACCP. 8 doanh nghiệp của Đắk Lắk đủ điều kiện được tham gia chương trình hỗ trợ đánh giá và chứng nhận theo tiêu chuẩn ISO/HACCP.Quá trình triển khai chương trình được thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản và khoa học, thông qua 3 đợt đánh giá. Đợt đầu tiên là khảo sát ban đầu nhằm đánh giá hiện trạng điều kiện sản xuất, nhà xưởng, trang thiết bị và quy trình của từng doanh nghiệp. Tiếp đó, các đơn vị chuyên môn tiến hành tư vấn, hướng dẫn doanh nghiệp khắc phục những tồn tại, hạn chế, từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng theo yêu cầu của tiêu chuẩn ISO/HACCP. Đợt cuối cùng là đánh giá tổng thể để làm căn cứ cấp giấy chứng nhận. 100% mẫu đạt yêu cầu Trong quá trình thực hiện, cơ quan chuyên môn đã lấy 40 mẫu nguyên liệu và sản phẩm thành phẩm của các doanh nghiệp tham gia chương trình để kiểm nghiệm. Kết quả cho thấy 100% mẫu đạt yêu cầu theo quy định về chất lượng và an toàn thực phẩm. Trên cơ sở đó, 8/8 doanh nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận ISO 22000:2018 hoặc HACCP với phạm vi chứng nhận bao gồm các sản phẩm chủ lực của tỉnh như cà phê rang xay, hạt điều, mắc ca, tổ yến và thủy sản chế biến. Việc hỗ trợ áp dụng ISO/HACCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã góp phần quan trọng trong việc chuẩn hóa quy trình sản xuất. Thực tế cho thấy, việc hỗ trợ áp dụng ISO/HACCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã góp phần quan trọng trong việc chuẩn hóa quy trình sản xuất, cải thiện điều kiện nhà xưởng, nâng cao ý thức tuân thủ các quy định về an toàn thực phẩm. Qua đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa từng bước nâng cao năng lực quản trị, tạo nền tảng để nâng cao khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường tiêu thụ nông, thủy sản trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng. Bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở NN-MT tỉnh Đắk Lắk cho biết, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO/HACCP năm 2025 là hoạt động thiết thực, thể hiện sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của UBND tỉnh Đắk Lắk trong việc đồng hành cùng doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm an toàn thực phẩm và phát triển bền vững. Theo bà Thủy, quá trình triển khai chương trình được thực hiện nghiêm túc, bài bản, từ tư vấn, hướng dẫn hoàn thiện điều kiện sản xuất đến đánh giá, chứng nhận theo tiêu chuẩn ISO/HACCP. Kết quả đạt được rất tích cực khi 100% doanh nghiệp tham gia chương trình đã được cấp giấy chứng nhận ISO 22000:2018 hoặc HACCP, toàn bộ 40 mẫu nguyên liệu và sản phẩm được kiểm nghiệm đều đạt yêu cầu về chất lượng và an toàn thực phẩm. Lãnh đạo Sở NN-MT tỉnh Đắk Lắk và Công ty cổ phần Chứng nhận và Kiểm nghiệm FAO trao giấy chứng nhận ISO/HACCP cho các doanh nghiệp.Cũng theo bà Thủy, việc áp dụng ISO/HACCP không chỉ giúp doanh nghiệp chuẩn hóa quy trình sản xuất, nâng cao ý thức tuân thủ các quy định về an toàn thực phẩm mà còn góp phần nâng cao uy tín, giá trị thương hiệu và khả năng cạnh tranh của nông sản Đắk Lắk trên thị trường. Đây là yếu tố quan trọng để các sản phẩm nông, thủy sản của tỉnh từng bước khẳng định vị thế, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng và đối tác. Để duy trì và phát huy những kết quả đã đạt được trong đánh giá, chứng nhận theo tiêu chuẩn ISO/HACCP, Sở NN-MT tỉnh Đắk Lắk đề nghị các doanh nghiệp được chứng nhận tiếp tục duy trì nghiêm các điều kiện sản xuất theo tiêu chuẩn đã được công nhận, đồng thời chủ động phối hợp với các cơ quan quản lý và đơn vị chứng nhận trong công tác giám sát, đánh giá định kỳ. Qua đó góp phần phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh ổn định, bền vững, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của ngành nông nghiệp và kinh tế địa phương.Theo Trần Thọ - nongnghiepmoitruong.vn

Xem chi tiết..